Thứ Bảy, 29 tháng 10, 2011

Lại những con số

Chính phủ đã điều chỉnh con số tăng trưởng GDP cho năm 2012 xuống mức thực tế hơn: 6-6,5%.
Thế nhưng trên TBKTSG số ra tuần này có bài “Dàn nhạc lỗi nhịp”, trong đó tác giả cho biết hầu hết các địa phương, kể cả những tỉnh nghèo đều đặt mục tiêu tăng trưởng với mức cao “giật mình”. Chẳng hạn: Đồng Tháp: 13,5%; Đồng Nai: 12-13%; Sóc Trăng: 12,5%; Hà Tĩnh: trên 13%; Điện Biên: 12,8%Thanh Hóa: từ 13,5% trở lên; Nam Định:13%...
Cũng trên số báo này, có những con số gây ấn tượng khác. Đó là mặc dù chúng ta cứ liên tục nghe chuyện cắt giảm đầu tư công nhưng bài “Tái cấu trúc đầu tư, cần siết kỷ cương trước” cho biết theo báo cáo vừa được Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp và trình Chính phủ vào đầu tháng 10, số dự án sử dụng vốn nhà nước mới khởi công trong nửa đầu năm nay chẳng những không giảm, mà còn tăng mạnh. Cụ thể, có đến 6.731 dự án mới khởi công trong 6 tháng đầu năm và tăng gần 1.000 dự án so với cùng kỳ năm ngoái.
Trong bài “Nhiệm vụ khó khăn”, có một con số kỷ lục. “Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương Lê Xuân Bá cho biết, các bộ, ngành và chính quyền địa phương đã gửi danh mục dự án đầu tư công trong năm tới ra Bộ Kế hoạch và Đầu tư với tổng số tiền 300 tỉ đô la Mỹ. Ông nói: “Với một nền kinh tế quy mô 105 tỉ đô la Mỹ hiện nay, thì chúng ta không được ăn gì, tiêu gì trong 3 năm mới đủ đáp ứng nhu cầu đầu tư chỉ trong 1 năm”.
Toàn là những con số gây nhức đầu

Chuyện giàu nghèo – chưa có lối ra


Biểu tình phản kháng luôn luôn là cách thức để lôi kéo sự chú ý của công chúng vào một vấn đề gì đó và tìm kiếm sự ủng hộ cho những giải pháp đưa ra. Phong trào “Chiếm lấy phố Wall” làm được điều thứ nhất nhưng thất bại ở điều thứ hai.
Đến nay ai cũng biết “Chiếm phố Wall” là một cách nói, một cách hành động để biểu lộ sự bất mãn sâu sắc tình trạng phân hóa giàu nghèo, giữa 1% dân số giàu nhất và 99% số người còn lại. Theo nhà kinh tế đoạt giải Nobel Joseph Stiglitz trong một bài báo mang tựa đề “Của 1%, Do 1%, Vì 1%”, một phần trăm dân số giàu nhất nước Mỹ đang sở hữu đến 40% tài sản nước này. Tệ hại hơn, người giàu ngày càng giàu hơn và dĩ nhiên khi tổng thu nhập quốc dân thay đổi không đáng kể thì người nghèo buộc phải càng nghèo đi. Năm 1980, 1% người giàu nhất chiếm 9% có tổng thu nhập nước Mỹ thì đến năm 2006, họ chiếm gần đến 19%.
Phong trào “Chiếm phố Wall” lan ra khắp thế giới, chứng tỏ chuyện phân hóa giàu nghèo không chỉ giới hạn vào nước Mỹ và sự bất mãn của người dân không chỉ tập trung vào phố Wall.
Sự phẫn nộ của người dân có lẽ bùng phát từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu từ năm 2008, lúc hàng ngàn tỷ tiền đóng thuế của người dân được tung ra để cứu lấy hệ thống ngân hàng và các tập đoàn tài chính. Những tưởng sau đó, kinh tế phục hồi, mọi chuyện đâu vào đó nhưng nước Mỹ và nhiều nước khác vẫn đang đối diện nạn thất nghiệp cao ngất, kinh tế vẫn đình trệ và giới ngân hàng vẫn tự thưởng cho mình hàng chục triệu đô-la mỗi người. Thử hỏi không ai không bất mãn trước tình thế đó.
Nhưng vấn đề là làm gì để giải quyết nạn bất bình đẳng trong thu nhập thì không ai có thể đưa ra câu trả lời hoàn hảo. Lấy ví dụ chuyện trả thu nhập cho giới đứng đầu các tập đoàn tài chính. Chính các khoản lương thưởng cao ngất cho một số ít người đứng đầu là động lực thúc đẩy sự hoạt động với hiệu quả cao nhất của các tập đoàn này, là thanh nam châm thu hút người tài vào khu vực này và là củ cà rốt đòi hỏi mọi người ganh đua nhau làm việc tận lực với hy vọng ngày nào đó họ sẽ đến đích, bỏ túi được những khoản thưởng hậu hĩ. Nếu bỏ cơ chế trả lương thưởng cao trong nền kinh tế thị trường, chúng ta xóa đi một động lực rất lớn và trong bối cảnh kinh tế ngày càng tệ hại, không ai dám và không ai muốn làm chuyện đó cả.
Tuần trước báo chí mới tiết lộ Steve Jobs, nhà doanh nhân huyền thoại vừa mới qua đời, khi gặp Tổng thống Obama vào năm ngoái, đã tiên đoán thẳng, Obama sẽ chỉ là tổng thống một nhiệm kỳ. Đó là bởi Jobs phản đối những biện pháp kiểm soát thị trường mà Obama đang cố gắng áp dụng. Một con người từng được xem là cấp tiến như Stev Jobs mà khi quyền lợi doanh nghiệp bị đe dọa vẫn lên tiếng phản ứng thì làm sao các chính trị gia, những người phụ thuộc rất nhiều vào nguồn quỹ vận động từ doanh nghiệp, dám áp dụng biện pháp gì để xóa bớt sự bất bình đẳng trong thu nhập.
Thật ra thủ phạm sâu xa của hố sâu giàu nghèo ở các nước chính là lòng tham của giới tài phiệt lợi dụng quá trình toàn cầu hóa diễn ra trong những thập niên qua. Thoạt tiên, toàn cầu hóa được xem là con đường tối ưu hóa sản xuất trên bình diện toàn cầu, là sự phân công lại nguồn lực lao động và sự phân bổ vai trò cho các nước. Các khâu sản xuất cần nhiều công nhân được chuyển dần sang các nước nghèo; nước giàu chỉ còn giữ các khâu dịch vụ, được định giá cao hơn nhiều lần. Nhìn ở góc độ tích cực, toàn cầu hóa đã nâng cao mức sống của hàng trăm triệu con người ở những nước đang phát triển nhưng ngược lại, nhìn từ các nước phương Tây, hàng loạt ngành công nghiệp lần lượt bị dẹp bỏ, công nhân thất nghiệp tràn lan, nhiều thành phố công nghiệp bị bỏ hoang, nhiều kỹ năng biến mất. Và dĩ nhiên trong quá trình chuyển biến này, giới tư bản hưởng lợi nhiều nhất vì đã tối đa hóa được lợi nhuận, bất kể biên giới địa lý.
Để có thể dễ hình dung, chúng ta cứ tưởng tượng toàn trái đất này là một ngôi làng, mọi người được quyền di chuyển dễ dàng để sống ở bất kỳ nơi đâu như trong một câu chuyện khoa học viễn tưởng. Toàn cầu hóa như vừa qua ắt, trên lý thuyết, sẽ dẫn đến chỗ nhiều công nhân các nước giàu sẽ phải di cư sang những nước nghèo để kiếm việc làm thích hợp với họ và chịu một mức sống giảm sút. Nhưng chính ở những nước nghèo, toàn cầu hóa cũng làm trình trạng chênh lệch giàu nghèo nhanh chóng nảy sinh; những người thợ luôn phải chịu đồng lương thấp còn giới chủ vẫn hưởng thu nhập trên trời. Những năm trước khủng hoảng, tình trạng bất bình đẳng còn chịu đựng được vì phương Tây định giá trị các khâu dịch vụ trong chuỗi sản xuất toàn cầu rất cao. Chúng ta đều biết giá trị gia công giày Nike hay quần áo thời trang rất thấp so với giá bán cao ngất của chúng vì đa phần chạy vào chi phí thiết kế, quảng cáo, tiếp thị… Nhưng dần dần phương Tây mới hiểu ra năng suất trong dịch vụ không thể tăng bằng tốc độ tăng của sản xuất – chênh lệch này vì cạnh tranh sẽ giảm và cuối cùng thu nhập, định đoạn bởi năng suất sau cùng, giảm trên chung cuộc.
Ai cũng muốn nền kinh tế nước mình đi vào công nghệ cao, làm chuyện to lớn chứ không mắc kẹt vào dây chuyền sản xuất cổ lỗ. Nhưng nếu nhìn vào sự phát triển của nước Mỹ trong những năm qua chẳng hạn, chúng ta sẽ thấy một bức tranh méo mó. Theo số liệu của tờ Economist, tổng cộng các hãng danh tiếng nhất nước Mỹ hiện nay gồm Apple, Google, Facebook và Amazon chỉ có 113.000 nhân viên, bằng một phần ba lượng nhân viên của hãng GM vào năm 1980. Người Mỹ thường đem những tên tuổi này ra để trấn an mọi người rằng nước Mỹ hiện vẫn dẫn đầu trong thế giới kinh doanh, với những sáng kiến làm ăn không ai vượt qua, với những sản phẩm cả thế giới phải trầm trồ. Sự thật là giá trị các hãng này đem lại cho nước Mỹ không lớn như các đại gia thời trước như GM, Ford, Caterpillar, General Electric hay Kodak. Họ không tạo ra sự thịnh vượng cho cả một cộng đồng mà chỉ đem lại tiền tỷ cho một số ít người đứng đầu các tập đoàn này.
Thế nhưng, cả thế giới đã lậm sâu vào con đường phân công theo mô hình toàn cầu hóa, không thể một sớm một chiều mà thay đổi gì được. Đó là lý do vì sao Phong trào “Chiếm Phố Wall” cho đến nay vẫn chưa đưa ra được một giải pháp gì cho sự phản kháng của họ.

Nguyễn Vạn Phú

Chủ Nhật, 23 tháng 10, 2011

Không đơn giản chỉ bởi lòng tham

Đào Tuấn
Khi các vụ vỡ nợ lớn nhỏ đua nhau đổ bể, người ta bắt đầu nhắc lại vụ án nước hoa Thanh Hương hồi cuối những năm 80. Tháng 3-1990, khi vụ Thanh Hương đổ bể, số nợ huy động trong dân chúng lên tới con số khủng khiếp: 37 tỷ đồng. Để dễ hình dung mức độ khổng lổ của con số và cơn sốc xã hội bấy giờ, có thể đối sánh với giá gạo, khoảng 900đ/kg, thu nhập bình quân đầu người khoảng 227 USD và tỷ giá 4.500 đồng/USD.
“Phương thức nợ Thanh Hương” sau này được tổng kết là “kiểu lừa rất cổ điển”: Thương hiệu ảo- Lãi cao. Với 10.000 đồng lãi trên mỗi 1.000.000 đồng vốn và một thương hiệu mà cứ mỗi giờ vàng lại có những ca sĩ nổi tiếng hát những bản nhạc được sáng tác riêng cho Thanh Hương, cả TP HCM lên cơn sốt khi dường như ai cũng là chủ nợ của Thanh Hương.
Bối cảnh của vụ án nước hoa Thanh Hương, và ngay trước đó là vụ đổ vỡ hàng loạt các HTX tín dụng, có lẽ là giai đoạn bất ổn nhất trong lịch sử kinh tế Việt Nam: Tỷ giá tồn tại phi thực tế và trong 9 năm đã tăng 450 lần, từ 10 đồng/1 USD năm 1981 lên 4.500đ/1 USD tháng 3-1989. Do ảnh hưởng bởi giá lương tiền, tỷ lệ siêu lạm phát xảy ra chưa từng có trong suốt các năm 1986- 1989. Từ kỷ lục về lạm phát 453,3% năm 1986, đến trước thời điểm Thanh Hương vỡ nợ, lạm phát “vẫn còn” 95,3%. Cần phải nhấn mạnh là để đối phó với lạm phát, Nhà nước bấy giờ cho….đổi tiền- nhấn mạnh thêm, là sau khi in tiền không xuể.
Cho tư nhân vay với lãi suất cao hơn lạm phát, rất đơn giản, chính là một hình thức giữ tiền của dân.
Một nghiên cứu của tướng Công an Phạm Minh Chính, người đang đương chức Ủy viên TƯ Đảng, Bí thư tỉnh ủy Quảng Ninh nếu ví dụ: Năm 1988, 1 lô đất ở khu vực Láng Thượng (Đống Đa- HN) được giao dịch với giá 2 chỉ vàng. 2 năm sau, lô đất này được giao dịch lại với giá 7 lượng vàng. Cao gấp 35 lần giá cũ. Đến năm 1993, giá đã là 120 cây vàng, gấp 17 lần giá 3 năm trước và 600 lần so với giá cách đó 5 năm. TS Chính cho rằng: Tâm lý muốn đảm bảo tiền bằng nhà và đất xuất hiện vào đầu những năm 90.
Sau vụ Thanh Hương, tâm lý trú ấn khiến người dân tiếp tục giữ tài sản của mình bằng cách đầu tư vào đất đai, và vàng, thay vì là gửi tiền vào ngân hàng như Nhà nước mong muốn. Không phải ngẫu nhiên là đúng vào năm 1990, Việt Nam lần đầu tiên buộc phải cho nhập khẩu vàng. Không phải là ngẫu nhiên mà giá đất từ 1990 lên theo chiều thẳng đứng và cơn sốt đất đầu tiên xảy ra năm 1993.
Sách “Kinh tế Việt Nam: Thăng trầm và đột phá” của cặp đôi TS Phạm Minh Chính và Vương Quân Hoàng cho biết: Kinh tế tư nhân bấy giờ không tiếp cận được nguồn vồn ngân hàng, phổ biến là do không có tài sản thế chấp và chính sách không khuyến khích của Ngân hàng đối với những khoản vay này. KT tư nhân, trong điều kiện hầu bao bị bót nghẹt trông phần lớn vào hình thức “Hụi”. Và lẽ đương nhiên, thị trường tín dụng phi chính thức ra đời, thậm chí rất phát triển, nhằm đáp ứng nhu cầu từ hai phía dư vốn và thiếu vốn.
Hụi họ, tín dụng phi chính thức vẫn tồn tại từ đó đến giờ như một kênh huy động vốn “dân gian”. Và vỡ nợ chỉ xảy ra khi nền kinh tế “có vấn đề”.
Không khó để chỉ ra những vấn đề của nền kinh tế hiện nay và đó là những vấn đề đã từng tồn tại trong thập niên 80 của thế kỷ trước.
Khi nguồn vốn bị bóp nghẹt với lãi suất vượt quá định mức lợi nhuận thông thường, khi mà thị trường chứng khoán, kênh huy động vốn liên tục trong tình trạng đèn đỏ, mà con số gần 47 ngàn doanh nghiệp giải thể hoặc phá sản chỉ là một mặt của vấn đề, thì người ta phải trông chờ vào tín dụng đen, hoặc không làm gì cả. Khi niềm tin vào đồng nội tệ suy giảm, người ta phải chuyển đổi tiền đồng vào đất, vào vàng, vào ngoại tệ. dù bất động sản đang đóng băng, dù vàng cao hơn giá thế giới cả triệu đồng mỗi lượng, dù tỷ giá thậm chí được “điều chỉnh” 3 lần trong chỉ 7 ngày. Và khi mà lạm phát cao hơn mức lãi suất ngân hàng tới cả chục %, người ta sẵn sàng chấp nhận rủi ro với tín dụng phi chính thức để bảo toàn tài sản của mình.
Đã có một cách nhìn nhận rất ác tâm xung quanh câu chuyện vỡ nợ: “Lòng tham và cả tin”; “Chung quy chỉ tại lòng tham”; “Lòng tham đang được sát hạch”…
Nhưng vỡ nợ không đơn giản chỉ bởi lòng tham.
Nguyễn Văn Mười Hai đã ra tù và bắt đầu một cuộc đời mới. Nhưng chắc chắn những Mười Ba, Mười Bốn sẽ xuất hiện. Rất sớm thôi.

Thứ Ba, 18 tháng 10, 2011

Quốc hiệu qua các thời kỳ lịch sử:


(Dị bản: Xích Quỷ (còn gọi là Thích Quỷ), theo Việt Nam Sử lược là có nguồn gốc từ thủy tổ của người Việt là Kinh Dương Vương, tên tục là Lộc Tục, lấy quốc hiệu là Xích Quỷ. Bờ cõi nước Xích Quỷ bấy giờ phía bắc giáp Động Đình Hồ (Hồ Nam), phía nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm Thành), phía tây giáp Ba Thục (Tứ Xuyên), phía đông giáp bể Nam Hải. Kinh Dương Vương làm vua nước Xích Quỷ vào quãng năm nhâm tuất (2879 trước Tây Lịch?) và lấy con gái Động Đình Quân là Long Nữ đẻ ra Sùng Lãm, nối ngôi làm vua, xưng là Lạc Long Quân. Có thuyết cho rằng, truyền thuyết "Âu Cơ Trăm trứng" gắn với nhân vật Sùng Lãm này)
Văn Lang kinh đô đặt ở Phong Châu nay thuộc tỉnh Phú Thọ. Lãnh thổ gồm khu vực Đồng bằng Bắc Bộ và ba tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh bây giờ. Quốc gia này tồn tại cho đến năm 258 TCN. 
Âu Lạc Năm 257 TCN, nước Âu Lạc được dựng lên, từ liên kết các bộ lạc Lạc Việt (Văn Lang) và Âu Việt, dưới uy thế của Thục Phán - An Dương Vương. Âu Lạc có lãnh thổ bao gồm lãnh thổ của Văn Lang trước đây và một phần đông nam Quảng Tây (Trung Quốc). Khoảng cuối thế kỷ thứ 3 TCN, đầu thế kỷ thứ 2 TCN (năm 208 TCN hoặc 179 TCN[1]), Triệu Đà (quận úy Nam Hải-nhà Tần) tung quân đánh chiếm Âu Lạc. Cuộc kháng cự của An Dương Vương thất bại, nhà nước Âu Lạc bị xóa sổ.
Vạn Xuân là quốc hiệu của Việt Nam trong một thời kỳ độc lập ngắn ngủi khỏi chính quyền trung ương Trung Hoa của nhà Tiền Lý dưới sự lãnh đạo của Lý Nam Đế. Quốc hiệu này tồn tại từ năm 544 đến năm 602 thì bị nhà Tùy tiêu diệt.
Đại Cồ Việt là quốc hiệu của Việt Nam từ thời nhà Đinh đến đầu thời nhà Lý, do Đinh Tiên Hoàng đặt năm 968. Quốc hiệu này tồn tại 86 năm đến năm 1054, đời vua Lý Thánh Tông đổi sang quốc hiệu khác.
Đại Việt là quốc hiệu của Việt Nam từ thời nhà Lý, bắt đầu từ năm 1054, khi vua Lý Thánh Tông lên ngôi. Quốc hiệu này tồn tại không liên tục (gián đoạn 7 năm thời nhà Hồ và 20 năm thời thuộc Minh), đến năm 1804, trải qua các vương triều Lý, Trần, Lê, Mạc và Tây Sơn, khoảng 743 năm.
Đại Ngu là quốc hiệu của Việt Nam thời nhà Hồ. Quốc hiệu Đại Việt được đổi thành Đại Ngu năm 1400 khi Hồ Quý Ly lên nắm quyền. Sau khi nhà Hồ bị thất bại trước nhà Minh, và nhà Hậu Lê giành lại độc lập cho Việt Nam, quốc hiệu của Việt Nam đổi lại thành Đại Việt.
Về quốc hiệu này, theo truyền thuyết, họ Hồ là con cháu Ngu Thuấn (là một trong Ngũ Đế nổi tiếng ở Trung Hoa thời thượng cổ); sau này con Ngu Yên là Vĩ Mãn được Chu Vũ Vương của nhà Chu phong cho ở đất Trần gọi là Hồ Công, sau dùng chữ Hồ làm tên họ. Hồ Quý Ly nhận mình là dòng dõi họ Hồ, con cháu Ngu Thuấn, nên đặt quốc hiệu là Đại Ngu. Chữ Ngu (虞) ở đây có nghĩa là "sự yên vui, hòa bình", chứ không có nghĩa là "ngu si".
Việt Nam Quốc hiệu Việt Nam chính thức xuất hiện vào thời nhà Nguyễn. Vua Gia Long đã đề nghị nhà Thanh công nhận quốc hiệuNam Việt, với lý lẽ rằng "Nam" có ý nghĩa "An Nam" còn "Việt" có ý nghĩa "Việt Thường". Tuy nhiên tên Nam Việt trùng với quốc hiệu của quốc gia cổ Nam Việt thời nhà Triệu, gồm cả Quảng Đông và Quảng Tây của Trung Hoa. Nhà Thanh yêu cầu nhà Nguyễn đổi ngược lại thành Việt Nam để tránh nhầm lẫn, và chính thức tuyên phong tên này năm 1804.
Tuy nhiên, tên gọi Việt Nam có thể đã xuất hiện sớm hơn. Ngay từ cuối thế kỷ 14, đã có một bộ sách nhan đề Việt Nam thế chí (nay không còn) do Hàn lâm viện học sĩ Hồ Tông Thốc biên soạn. Cuốn Dư địa chí viết đầu thế kỷ 15 của Nguyễn Trãi (1380-1442) nhiều lần nhắc đến hai chữ "Việt Nam". Điều này còn được đề cập rő ràng trong những tác phẩm của trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585), ngay trang mở đầu tập Trình tiên sinh quốc ngữ đã có câu: "Việt Nam khởi tổ xây nền". Người ta cũng tìm thấy hai chữ "Việt Nam" trên một số tấm bia khắc từ thế kỷ 16-17 như bia chùa Bảo Lâm (1558) ở Hải Dương, bia chùa Cam Lộ (1590) ở Hà Nội, bia chùa Phúc Thánh (1664) ở Bắc Ninh... Đặc biệt bia Thủy Môn Đình (1670) ở biên giới Lạng Sơn có câu đầu: "Việt Nam hầu thiệt, trấn Bắc ải quan" (đây là cửa ngő yết hầu của nước Việt Nam và là tiền đồn trấn giữ phương Bắc). Về ý nghĩa, phần lớn các giả thuyết đều cho rằng từ "Việt Nam" kiến tạo bởi hai yếu tố: chủng tộc và địa lý (người Việt ở phương Nam). 

Thứ Tư, 12 tháng 10, 2011

Giá trị con người và dư luận xã hội

Trần Tấn Bản
Nhân vụ Domimique Straus Kahn – cựu giám đốc IMF “tẩn” cô hầu phòng tại một khách sạn ở New York và vụ người ta “ném đá” vào em Ngọc Trinh (chắc là không còn trinh đâu!!!! He he), tự dưng ngứa ngón trỏ muốn bàn về giá trị con người và dư luận xã hội.
 Dominique Straus Kahn người Do thái, quốc tịch Pháp, tuổi ngoài sau mươi-vẫn- chạy-tốt, giám đốc IMF, được cho là có công trong việc cứu thế giới qua cơn khủng hoảng kinh tế gần đây. Ông là ứng cử viên số một cho chức Tổng thống Pháp nhiệm tới. Trong giây phút hứng-không-chịu-được, ông “tẩn” cô hầu phòng một phát. Tra tay vào còng. Sự nghiệp chấm hết.
 Em Ngọc –không-còn-Trinh có thân thể nuột nà, các vòng đều chuẩn. Nhờ thế em đạt chức hoa hậu một cuộc thi sắc đẹp do các đại gia Việt kiều tổ chức (kiểu thi hoa hậu như ngày xưa Hắc công tử Trần trinh Huy tổ chức ở Bạc liêu).
 Em Ngọc-không-còn-Trinh có thân hình đẹp, em tự hào về điều đó, em biết khai thác thế mạnh của mình để kiếm tiền (bằng cách chụp hình quảng cáo đồ lót chẳng hạn). Ngoài ra, em không thể có những thứ khác. “Ném đá” vào em vì những điều em không có (mà người khác mong đợi em phải có) là không công bằng. Một cô bé quê Bến tre, con một người xe ôm, học hết lớp 7 thì không thể bắt em phải có những hiểu biết của những người được học hành tử tế cho dù có gán cho em bất kỳ danh hiệu cao đẹp nào.
 Ông Dominique Straus Kahn là nhà kinh tế có tài, ông đóng góp cho thế giới nhờ cái đầu biết điều hành kinh tế củamình khi là Giám đốc IMF. Chuyện sinh lý mạnh hay “tẩn” cô hầu phònglà chuyện đời tư ông ấy, và ở khía cạnh này ông không phải là gương mẫu. Tuy nhiên, ông là Giám đốc IMF chứ không phải Giáo hoàng. Người ta cần một giám đốc IMF có cái đầu biết nghĩ ra những giải pháp kinh tế khôn ngoan chứ không phải là một người đạo mạo hay liệt dương. “Ném đá” vào chuyện đời tư của ông là không công bằng.
 Trịnh Công Sơn là một nhạc sỹ có tài, đã sang tác rất nhiều bài hát để đời. Nhưng về đời tư, Trịnh Công Sơn là người yêu đương lăng nhăng và …lười tắm, như thế là không tốt. May là người ta nhớ đến ông như một nhạc sỹ thiên tài chứ không phải là một người ở dơ. Ở trường hợp này, dư luận xã hội rất công bằng.
 Giá trị một con người nên được nhìn nhận từ những gì họ đóng góp cho xã hội ở vai trò của họ, thay vì xoáy vào toàn bộ đời tư, hay khuyết tật của họ bởi vì Nhân bất thập toàn.
 Viết thêm:
 Mới đây người ta “truy” ráo riết cái bằng ĐH của em Lý-hơi-Kỳ, lôi cả Bộ Văn hóa vào việc này. Nói một cách công bằng, em Lý-hơi –Kỳ có nhan sắc được, nghe nói em nói được ba ngoại ngữ Anh, Đức, Hoa. Như thế là quá giỏi. Em biết giao tiếp, bằng chứng là gần đây em kề vai bá cổ Jackie Chan và mệnh phụ cỡ to nói tiếng tàu. Về sự nghiệp diễn viên, em đóng vài bộ phim, diễn xuất vào loại thường thường. Em “nổ” hơi to hơn mức cần thiết. Đại sứ du lịch của một quốc gia nên là gương mặt của công chúng, đẹp (hiểu theo nghĩa rộng), khéo giao tiếp, biết ngoại ngữ. Em Lý-hơi-Kỳ không phải là lựa chọn xuất sắc nhưng là tàm tạm. Vấn đề là không nên kỳ vọng việc chọn Đại sứ du lịch sẽ vực dậy nền du lịch nước nhà. Cứ xem nó như bổ nhiệm bình thường, như bổ nhiệm ông Giám đốc sở giáo dục của tỉnh chẳng hạn. Cái cần làm cho ngành du lịch là vận động người dân giữ các danh lam thắng cảnh sạch sẽ, không chem., chặt khách du lịch… thay vì tốn côn sức cải nhau em Lý-hơi-Kỳ hay em Lý gì khác làm Đại sứ.

Thứ Tư, 5 tháng 10, 2011

Cười chút chơi!!!!

Cậu bé nhờ bố giải thích rõ các từ chính trị vừa học ở lớp. Ông bố là một Bí Thư Huyện Ủy, nói:

"Con hãy nhìn vào gia đình mình đây là một điển hình. Bố đi kiếm tiền, vậy bố là Nhà tư bản. Mẹ quản lý số tiền này nên mẹ là Nhà nước. Con được cha mẹ chăm lo đời sống hàng ngày nên con là Nhân dân. Chị ôsin nhà ta dĩ nhiên là Giai cấp lao động, còn cậu em còn quấn tã của con sẽ là Tương lai đất nước. Con hiểu chưa?".

Cậu bé hiểu mập mờ nhưng không hỏi thêm và lăn ra ngủ.

Nửa đêm cậu bé tỉnh dậy phần vì đói phần vì cậu em đã ị ra tã lót và

khóc. Cậu đi đến phòng ngủ bố mẹ, gõ cửa nhưng mẹ ngủ rất say nên không nghe tiếng. Cậu bèn đi đến phòng chị ôsin thì nhìn thấy bố đang ì xèo vật nhau với chị ta trên giường. Cả hai đều rất "bận rộn" nên cũng không nghe thấy tiếng gõ cửa của cậu ta. Cậu chán nản đi về phòng và ngủ tiếp.

Sáng hôm sau trong lúc ăn sáng ông bố hỏi con trai xem cậu ta đã hiểu các từ mình đã giảng hôm qua chưa?.

Cậu bé trả lời: "Vâng, bây giờ con đã hiểu rồi. Nhà tư bản thì đè đầu cưỡi cổ , tước đoạt hết quàn áo Giai cấp lao động, trong khi Nhà nước ngủ say như chết. Nhân dân thì đói nhưng không biết kêu la với ai ,còn Tương lai đất nước thì chèm nhẹp thúi hoắc!".

Thứ Sáu, 30 tháng 9, 2011

Tù mù – minh bạch, và “tam đại đồng đường”

Bài của Kim Dung. Cơ chế quản lý doanh nghiệp tù mù hay minh bạch, thi toán quốc tế với bài toán quốc gia, và nghề… làm quan, là những lát cắt buồn vui của Phát ngôn và Hành động tuần này mong được chia sẻ, đồng cảm và trao đổi của quý bạn đọc gần xa.

Tù mù- minh bạch và… “Tam đại đồng đường”?
Sự kiện nổi bật trong tuần này là bức tranh kinh tế- xã hội được các đại biểu Quốc hội tại phiên họp toàn thể của Ủy ban Kinh tế QH chiều 24/9 (T/p HCM) nhận xét “đang ở giai đoạn cực kỳ khó khăn”. Còn chuyên gia kinh tế, TS Lê Đăng Doanh thì cho rằng “xấu nhất từ năm 1991 đến nay”.
Ngày 23/9, VnEconomy có bài viết dưới đầu đề: “Kinh tế vĩ mô bất ổn đến mức nào?”. Đặt câu hỏi vậy, nhưng bài viết đã là câu trả lời khi đưa ra hiện trạng các doanh nghiệp Nhà nước- đứa con trưởng của nền kinh tế đang “ốm đau”. Cũng là đánh giá của TS Trần Đình Thiên (Viện trưởng Viện Kinh tế VN):
“Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) có thể lỗ 11.669 tỷ đồng (2010 lỗ 23.647 tỷ), Tổng công ty Xăng dầu (Petrolimex): 1.200 tỷ đồng. Tập đoàn Công nghiệp và Tàu thủy (Vinashin): 3.092 tỷ; Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines): 613 tỷ đồng… Thiếu vốn đầu tư ngành chính nhưng đầu tư ngoài ngành hơn 22.590 tỷ. Lĩnh vực được chuộng nhất là tài chính, ngân hàng, bảo hiểm với 13 đơn vị, tổng vốn hơn 10.700 tỷ…”
Tức là vốn đầu tư ngành chính của các DNNN thì lỗ, nhưng vốn đầu tư các ngành phụ, mang tính chất mì ăn liền, nhiều rủi ro và mất an toàn, lại khá lớn. Nói một cách dân dã, tiền chi tiêu cho “bồ” của đứa con trưởng này không ít. Hiệu quả ra sao?
Nhìn toàn cảnh, người ta dễ dàng nhận thấy lạm phát tăng, tăng trưởng giảm, bội chi ngân sách, thâm hụt thương mại, giá trị đồng tiền ViệtNamgiảm…. Đương nhiên, niềm tin của người dân vào sự kinh doanh và điều hành của các DNNN cũng giảm theo.
Các chuyên gia cũng đưa ra nhiều giải pháp, nhưng người viết bài rất tâm đắc với nhận định của TS Lê Đăng Doanh rằng, đặc trưng của nền kinh tế hiện nay có nhiều bệnh, mà nguồn gốc sâu xa gắn liền với thể chế kinh tế, chính sách của Nhà nước. Để khắc phục các căn bệnh đó, không thể không cải cách bộ máy quản lý của Nhà nước, các chính sách kinh tế.
Nhận định này không mới, nhưng rất bản chất, phản ánh rõ trong những bất ổn của nền kinh tế hiện nay. Và nó không chỉ phản ánh ở kinh tế, mà còn ở cả những mảng xã hội như giáo dục, y tế, văn hóa…
Vì sao? Vì tuy đổi mới cơ chế quản lý kinh tế- xã hội đã hơn 20 năm, nhưng ai dám bảo đảm tư duy của con người trong điều hành đã thật sự mới, thoát được thói quen của một cơ chế bao cấp xin- cho vốn ăn sâu trong tiềm thức, từ cả lý luận lẫn thực tiễn?
Sự minh bạch thể hiện trong con số lỗ hàng nghìn tỷ đồng, phung phí biết bao mồ hôi nước mắt của dân
Nhưng sự tù mù vẫn còn nằm ở tư duy, ở cung cách quản lý và điều hành các cấp, lúc kiểu thị trường, lúc kiểu bao cấp, rất khó cho cả 2 phía doanh nghiệp và cho người dân. Rút cục, sẽ luôn có một nhóm lợi ích hưởng lợi
Trước đó, ngày 19/9. Diễn đàn Kinh tế VN có bài “Quản lý thì đừng sở hữu”, một bài viết rất đáng suy ngẫm về hiện trạng cơ chế quản lý các DNNN hiện nay.
Kinh doanh xăng dầu có lỗ thực?
Trong thông điệp đầu nhiệm kỳ mới 2011-2016, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu đổi mới cơ chế quyền chủ sở hữu Nhà nước đối với DNNN theo hướng, cơ quan hoạch định chính sách không đồng thời thực hiện chức năng chủ sở hữu DN. Thực chất là tách chức năng quản lý Nhà nước ra khỏi chức năng chủ sở hữu DN, tránh hiện tượng quản lý theo kiểu Nhà nước “vừa đá bóng, vừa thổi còi”. Luật DN cũng quy định rõ nguyên tắc này.
Để bảo đảm luật định đưa vào cuộc sống, Tổng Công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước đã ra đời để thi hành quyền chủ sở hữu một cách chuyên nghiệp, minh bạch và hiệu quả nhất.
Thế nhưng, giữa luật và thực tiễn quả là bao giờ cũng có một khoảng cách khá xa. Vì “Mọi lý thuyết đều mầu xám. Chỉ cây đời mãi mãi xanh tươi”. Tiếc thay, ở đây thực tiễn cũng… xam xám nốt. Bởi cho đến giờ, Tổng Công ty (SCIC) vẫn than vãn, riêng khâu đầu tiên- chuyển vốn về để quản lý đã trắc trở, rất khó khăn. Việc đổi mới cung cách quản lý DNNN rất trì trệ, thì hiệu quả hoạt động và chất lượng DNNN cũng rất ì ạch.
Thực tiễn này khiến người viết bài đặt 3 câu hỏi:
  • Chúng ta đang quá “hổng” mảng lý luận mang tính nền tảng, định hướng cho kinh tế thị trường?
  • Tư duy quản lý kinh tế kiểu bao cấp xin- cho vẫn ngự trị, luồn lách ngay trong cung cách điều hành quản lý Nhà nước?
  • Lợi ích nhóm chi phối khéo léo?
Cả 3 yếu tố này đều có quan hệ ràng buộc và là nguyên nhân của thực trạng kinh tế bất ổn hiện nay.
Nhưng nhiều chuyên gia kinh tế đặt vấn đề lợi ích nhóm nhiều hơn. Cứ nhìn bức tranh kinh tế thị trường hiện tại sẽ thấy rất rõ.
Bên cạnh DNNN có DN cổ phần hóa, DN tư nhân. Bên cạnh DN trong nước, có DN liên doanh vốn nước ngoài. Bên cạnh DN lớn, có doanh nghiệp vừa và nhỏ…
Vậy nhưng nếu các DN vừa và nhỏ loay hoay chống đỡ cơn bão lạm phát, tìm vốn, tìm đầu ra cho sản phẩm, thì các DN lớn lại luôn “làm mình, làm mẩy”, hoặc có thua lỗ “Nhà nước vẫn chìa tay” – theo cách nói của các đại biểu QH tại cuộc thảo luận sáng 4/8 (Kỳ họp QH khóa XIII) về tình hình kinh tế – xã hội.
Đến độ có đại biểu nêu: “DNNN cần huy động vốn thì báo lãi, cần tăng giá lại báo lỗ… Vậy bản chất kinh doanh lãi hay lỗ, lãi thật hay giả, lỗ thật hay giả?”.
Điều đó, tạo nên sự bất bình đẳng giữa các DN, chứ không phải tài năng hơn kém giữa họ.
Ngay cả các chuyên gia kinh tế nước ngoài của Ngân hàng Thế giới (WB) cũng tư vấn, thúc giục phải tiếp tục cải cách khu vực kinh tế này.
Giật mình, quốc gia đang tiến tới hội nhập văn minh, vậy nhưng cách điều hành và quản lý kinh tế của chúng ta lại “Tam đại đồng đường” kiểu … “Hai lúa”! Đứa con trưởng- DNNN có kém cỏi, làm thiệt hại Nhà nước đến mấy vẫn được ưu ái, yêu chiều, bởi nó là cây gậy?
Hay bởi vị thế và cả những khuyết tật của nó đang tạo ra lợi ích của không ít người?
Thi toán quốc tế và bài toán quốc gia
Đỉnh điểm của những bất ổn trong cơ chế quản lý kinh tế- khiến các DNNN làm mưa làm gió, được đánh dấu bằng cuộc khẩu chiến hiếm có giữa Bộ Tài chính và Bộ Công thương, cùng DN xăng dầu lớn nhất- Petrolimex, tại hội thảo “Điều hành giá xăng dầu theo cơ chế thị trường ở VN hiện nay” (ngày 20/9 tại Hà Nội).
Có lẽ trước áp lực dư luận xã hội, 2 Bộ- Tài chính và Công thương mới đây đã trần tình trên báo chí rằng, không có bất đồng trong điều hành giá xăng dầu. Nhưng bản chất của chuyện khẩu chiến tại hội thảo vừa qua vẫn là… không đồng tình với nhau về giá xăng, giữa 2 bộ, và các DN trực thuộc Bộ Công thương.
Bộ trưởng Vương Đình Huệ. Ảnh: Thế Dũng.
Một bên dọa bỏ cuộc không kinh doanh và một bên…không hề sợ, với tuyên bố sắc như móng tay nhọn bóc vỏ quýt dày: “Nếu doanh nghiệp nào không làm được thì rút lui. Kể cả Petrolimex, nếu không làm được chúng tôi sẵn sàng cho giải tán để lập tổng công ty khác. Nhà nước không dọa ai và cũng không ai dọa được Nhà nước”. Phải được chiều chuộng, ưu ái đến thế nào thì một DN mới dám dọa cả Nhà nước?
Xét cho cùng, nó là hệ lụy của một nền kinh tế thị trường nhưng không có cạnh tranh?
Thế nên người viết bài cho rằng, sẽ không thể có khẩu chiến về giá xăng tại hội thảo, nếu như trong thực tế, xăng dầu-  lĩnh vực cốt tử của quốc gia, không chỉ do 3 DNNN lớn-  Petrolimex, Saigon Petro và PVOil- độc quyền, chiếm tới 80-90% thị phần. Chỉ vì thế độc quyền, và chưa có thị trường cạnh tranh, các DNNN thả sức với dân:”Bắt cởi trần phải cởi trần/ Cho may ô mới được phần may ô”
Sẽ không thể có khẩu chiến, nếu như sự giải trình lỗ, lãi của  DNNN lớn như Petrolimex không có sự tù mù kỳ lạ và khó hiểu. Liên tục kêu lỗ, nhưng khi để trở thành một công ty cổ phần, trong bản cáo bạch tài chính thu hút các nhà đầu tư, người ta lại thấy Petrolimex công bố liên tục lãi. Năm 2008: Hơn 900 tỉ đồng, năm 2009: Gần 3,000 tỉ đồng, năm 2010: Lãi 81 tỉ đồng, và năm 2011: Dự kiến lãi khoảng 600 tỉ đồng.
Hóa ra kinh doanh lỗ, lãi phụ thuộc vào… “cái lưỡi”, không phụ thuộc vào lợi nhuận thực chất.
Đến người dân thường cũng không thể tin vào cách tính kiểu này, chưa nói đến Bộ trưởng Tài chính, một người có thâm niên và kinh nghiệm trong kiểm toán.
Sẽ không thể có khẩu chiến, nếu như không có câu trả lời tù mù của đại diện Petrolimex, về câu hỏi xăng lỗ bao nhiêu, dầu lỗ bao nhiêu? Đây là 2 mặt hàng chủ đạo của họ, mà với cách tính thiếu khoa học- gói trọn tổng doanh thu của tất cả các mặt hàng chủ đạo và phụ trợ, trừ đi tổng chi phí để tạo ra một kết quả lỗ chung của DN, Bộ trưởng Tài chính phải nghi ngờ Ban Quản trị của Tổng Công ty có vấn đề.
Sự can thiệp và không đồng ý tăng giá xăng của Bộ trưởng Tài  chính không chỉ chứng tỏ ông đứng về phía lợi ích của hơn 80 triệu dân. Mà ông còn phải làm nhiệm vụ của chính Bộ mình- gắng kiềm tỏa lạm phát đang lồng lộn phi mã. Nếu giá xăng lên, sẽ kéo theo rất nhiều mặt hàng khác tăng theo, có thể con ngựa lạm phát đứt dây cương, thật nguy hiểm.
Duy nhất có một người, biết làm cho bạn đọc… cười vì cái sự hơi ít văn hóa. Đó là ông N.L.A, Vụ phó Vụ Thị trường trong nước (Bộ Công thương). Có vẻ như ông này muốn “xả thân” bênh vực các sếp của mình, bênh vực chủ trương đòi tăng giá xăng của các DN đến tận cùng, khi mỉa mai: “Tôi nghe tin cứ nghĩ Bộ Tài chính bị làm sao“.
Và để mọi người biết về trí thông minh của mình, ông khoe mẽ: “Tôi không giỏi nhưng cũng đi thi toán quốc tế…”. Hơi buồn cười cho ông vì chả hiểu làm sao, mới đây Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng GD (Bộ GD) cho biết năm 1982, không có học sinh nào đi thi Olimpic toán Quốc tế có tên như ông (chỉ có 4 người: Lê Tự Quốc Thắng, Trần Minh, Ngô Phú Thanh và Nguyễn Hữu Đoàn).
Cũng có thể ông mới ở trong đội tuyển chọn thì… bị loại từ trong nước.
Đến nước này, thì bạn đọc lại bảo: “Ông Vụ phó này làm sao í nhỉ?”. Chả trách Bộ trưởng Vương Đình Huệ dạy lại ngay tại hội thảo: “Dù học nhiều nhưng cần có kiến thức thực tế”. Chí lý!
Dẫu sao, người viết bài vẫn tin ông là người thông minh, tuy “nổ” không phải chỗ. Nếu từng đi thi toán quốc tế, xin ông thử giải bài toán cấp quốc gia và… cấp DN:
Vì sao giá cả, trong đó có giá xăng tăng vùn vụt đến chóng mặt, còn giá trị văn hóa, con người, giáo dục, giá trị đạo lý xã hội, giá trị niềm tin lại…tụt nhanh đến thế?
Vì sao người dân không chỉ hoài nghi về cách tính giá xăng tù mù, thiếu minh bạch của DN, người dân còn hoài nghi về “lợi ích” được mất xung quanh chuyện bảo vệ cho việc tăng giá này?
Vì sao Bộ Công thương cũng không thể kiểm soát được hiện tượng các cửa hàng bán xăng luôn ăn cắp, ăn bớt xăng của khách hàng. Giá đã cao, khách hàng lại bị bòn rút, rút cục, họ bị thua thiệt tới 2 lần?
Dù vậy, chuyện khẩu chiến giữa 2 bộ và các DNNN xăng dầu có thể sẽ qua đi. Nhưng nếu sự độc quyền kinh doanh của các DN lớn vẫn tồn tại, nếu cơ chế quản lý chồng chéo đầy bất ổn vẫn hiển nhiên và đằng sau nó là các “con tin” của các đại gia, như cách nói của một nhà báo có tên tuổi, thì đương nhiên sẽ có những Bộ trưởng như ông Vương Đình Huệ.
Nhưng có một Bộ trưởng thẳng thắn vẫn không bằng có một cơ chế quản lý phù hợp thực tiễn kinh tế xã hội, được lòng dân và thực sự vì dân.
Làm quan: “Lập danh, lập nghiệp, lập ngôn”
Có lẽ vì tâm đắc với những phát ngôn thẳng thắn của Bộ trưởng Tài chính Vương Đình Huệ, trong dàn những Bộ trưởng của Chính phủ mới, trên Vnexpress ngày 27/9 có bài viết : “Các tân Bộ trưởng đã dám thể hiện cá tính”.
Chợt nghĩ tới câu tổng kết của dân gian: “Lập danh, lập nghiệp, lập ngôn”.
Trong 3 lập ấy, lập ngôn là khó nhất. Khó vì “ngôn” phải tỉnh táo, sáng suốt, khôn ngoan, để thiên hạ “người trên trông xuống, người ta trông vào” tâm phục, khẩu phục khỏi cười chê.
Làm người có 3 cái lập ấy đã khó, làm quan còn khó đến đâu!
Đứng dưới ít người, đứng trên muôn người, có danh, có tiếng, có quyền, có lợi, làm quan quả là nghề hấp dẫn. Chả thế từ cổ chí kim, bao tấn bi hài kịch xoay quanh cái nghề đặc biệt này.
Nhưng làm quan cũng lắm khổ ải. Vinh đấy, và tủi hổ đấy! Quyền đấy, và bất tín đấy!
Có những vị quan “lập ngôn” quá dễ dãi, ngớ ngẩn, khiến thiên hạ cười chê-  IQ cao! IQ cao lẽ ra phải là sự ngợi khen, lại là sự chê cười. Tại sao?  Hay… cái nước Việt mình nó thế! (mượn lời cố GS Hoàng Ngọc Hiến)
Nhưng hãy chú ý hiện tượng này: Nếu sự “lập ngôn” của các quan chức vốn rất dè dặt, mang đặc điểm của một cơ chế lãnh đạo tập thể. Thì dường như càng ngày, sự “lập ngôn” của các quan chức càng mang đặc điểm cá tính, năng lực tư duy và trách nhiệm cá nhân của họ, nhất là với lĩnh vực dân đang bức xúc. Đó là điểm đáng mừng.
Một đặc điểm khác: Họ đều xấp xỉ 50- 51, cái tuổi đã tích lũy nhiều kinh nghiệm sống, được đào tạo bài bản, lại kinh qua nhiều nhiệm vụ từ cơ sở. Thời đại thế giới phẳng cho họ rất nhiều thông tin, và tư duy buộc phải luôn trẻ hóa, để thích ứng với bổn phận.
Bộ trưởng Đinh La Thăng. Ảnh: internet
Hãy thử nghe Bộ trưởng Giao thông Đinh La Thăng thẳng thắn: “Bộ trưởng là tư lệnh lĩnh vực ngành, phải cho tôi toàn quyền…Bộ GT sẽ tập trung giải quyết 3 khâu đột phá chiến lược. Thứ nhất, đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông.Thứ hai, tình trạng tai nạn giao thông. Thứ b, ùn tắc giao thông… Tôi cho rằng khi đất nước có đủ điều kiện mới làm đường sắt cao tốc…. Sẽ ưu tiên đầu tư đường bộ cao tốc Bắc Nam, nâng cấp đường sắt hiện có, cân đối phát triển đường quốc lộ, tỉnh lộ, giao thông nông thôn”. Những phát ngôn của ông khá ấn tượng và rõ ràng khá hợp lòng dân.
Và Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình: “Sẽ đưa lãi suất về 17-19% trong vòng hai tháng kể từ ngày nhậm chức“.  Đi kèm với thông điệp mạnh mẽ về lãi suất, ông đưa ra một loạt chính sách, biện pháp mạnh tay đối với những cá nhân và tổ chức vi phạm. Kết quả, lãi suất cho vay đã bắt đầu hạ dù chưa thiết lập một mặt bằng ổn định.
Còn khi Bộ trưởng Tài chính Vương Đình Huệ không chấp nhận tăng giá xăng, lục lại phát ngôn của ông sau nhậm chức, thấy rằng ông đang thực hiện những điều đã tuyên bố: Sẽ lập lại trật tự trên thị trường xăng dầu, công khai minh bạch các khoản lỗ, lãi trong lĩnh vực vốn nhạy cảm, rất tác động tới đời sống nhân dân này.
Dĩ nhiên, mới 2 tháng trôi qua- một đoạn rất ngắn của nhiệm kỳ. Từ phát ngôn ấn tượng đến hành động ấn tượng cũng còn cần rất nhiều sự kiểm chứng của thực tiễn.
“Lập danh” đã thành. “Lập ngôn” nhiều Bộ trưởng đã có. Nhân dân đang trông chờ vào sự “lập nghiệp”- hành động cụ thể của các Bộ trưởng trong Chính phủ mới. Nhân dân vốn “nghìn mắt, nghìn tai” và nhân dân cũng luôn biết sát cánh với những Bộ trưởng biết vì nước, vì dân.
Một Bộ trưởng thực tài, thực tâm không bằng một cơ chế quản lý văn minh và minh bạch. Nhưng chắc chắn sẽ hữu hiệu hơn nữa, nếu một cơ chế quản lý văn minh, minh bạch có các Bộ trưởng thực tài, thực tâm.
Kim Dung. VNN – Tuần Việt Nam.

Thứ Tư, 28 tháng 9, 2011

5 trường hợp siêu lạm phát tồi tệ nhất trong lịch sử

Trong khi bạn đang uống một cốc cà phê, giá của nó đã kịp tăng lên gấp đôi. Chuyện này diễn ra khi lạm phát phi mã, giá cả tăng nhanh theo cấp số mũ và tiền trở nên vô giá trị chỉ trong vòng một đêm.
Dưới đây là 5 trường hợp lạm phát phi mã tồi tệ nhất từng xảy ra trong lịch sử.
5. Hy Lạp: tháng 10/1944
Tháng lạm phát cao nhất: 13.800%
Giá tăng gấp đôi sau mỗi 4,3 ngày
 
Lạm phát ở Hy Lạp bắt đầu vào tháng 10/1943 khi quân đội Đức đang chiếm đóng nước này trong Chiến tranh thế giới lần thứ 2. Tuy nhiên, lạm phát trở nên trầm trọng nhất là vào tháng 10/1944 khi chính quyền lưu vong Hy Lạp giành lại quyền kiểm soát Athen. Giá cả đã tăng 13.800% vào thời điểm đó và tăng 1.600% vào tháng 11.
Năm 1938, trung bình người Hy Lạp giữ tiền trong khoảng 40 ngày rồi mới đem tiêu, nhưng vào ngày 10/11/1944, con số này co lại chỉ còn 4 giờ. Năm 1942, mệnh giá lớn nhất của đồng drachma Hy Lạp là 50.000, nhưng vào năm 1944, con số này là 100 nghìn tỷ. Ngày 11/11/1944, chính phủ Hy Lạp đã phải định giá lại đơn vị tiền tệ của mình và đổi đồng drachma cũ sang đồng tiền mới với tỷ lệ 50 tỷ : 1. Tuy nhiên, đại bộ phận dân chúng vẫn dùng đồng bảng Anh như một đơn vị tiền tệ không chính thức cho đến giữa năm 1945.
Nguyên nhân chính của cuộc siêu lạm phát này là chiến tranh. Cuộc chiến này đã làm Hy Lạp ngập chìm trong nợ nần, thương mại bị đình trệ và chịu 4 năm bị chiếm đóng. Năm tài chính 1939, Hy Lạp thặng dư ngân sách là 271 triệu drachma, nhưng khoản tiền này nhanh chóng chuyển thành thâm hụt 790 triệu USD vào năm 1940, chủ yếu do suy giảm thương mại và sản xuất công nghiệp thiếu nguyên liệu thô hiếm cộng với các khoản chi ngoài dự tính cho quân sự. Thâm hụt ngân sách còn gia tăng do ngân hàng trung ương Hy Lạp liên tục rút tiền, hành động này đã làm cung tiền trên thị trường tăng gấp đôi chỉ sau 2 năm.
Các nỗ lực bình ổn giá bắt đầu phát huy tác dụng từ tháng 1 đến tháng 5/1945, giá chỉ tăng 140%, nhờ nhà kinh tế học kiệt xuất Kyriakos Varvaressos. Thậm chí sang tháng 6/1945, Hy Lạp còn giảm phát tới 36,8% vào tháng 6/1945 . Tuy nhiên, kế hoạch tăng viện trợ từ nước ngoài, khôi phục sản xuất trong nước và tăng cường kiểm soát lương và giá cả thông qua việc phân phối lại của cải lại làm trầm trọng thêm tình trạng thâm hụt ngân sách của Hy Lạp, vì vậy, Varvaressos đã phải từ chức vào ngày 1/9.
Sau cuộc nội chiến 1945-1946, nước Anh đề xuất một kế hoạch bình ổn cho Hy Lạp, bao gồm tăng doanh thu từ việc bán hàng cứu trợ, điều chỉnh một số thuế suất đặc biệt, cải thiện phương pháp thu thuế và thành lập một Ủy ban tiền tệ ( gồm 3 bộ trưởng Hy Lạp, một người Anh và 1 người Mỹ) để chịu trách nhiệm các vấn đề về tài chính. Vào đầu năm 1947, giá cả được bình ổn, niềm tin người tiêu dùng được phục hồi và thu nhập người dân được nâng cao, chính thức đưa Hy Lạp thoát khỏi lạm phát phi mã.
4. Đức: tháng 10/1923
Tháng lạm phát cao nhất: 29.500%
Giá tăng gấp đôi sau mỗi: 3,7 ngày
Đồng mác Đức (papiermark) được sử dụng từ năm 1914 khi chế độ bản vị vàng bị bãi bỏ. Tỷ giá với đồng USD ban đầu ở mức 4,2 mác/USD khi Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ. Tuy nhiên, tháng 8/1923, người ta phải bỏ ra 1 triệu mác Đức để đổi USD. Và đến tháng 11/1923, con số này đã tăng lên 238 triệu mác. Đó là thời điểm xuất hiện sự rối loạn tâm lý mang tên “Zero Stroke” khi người dân Đức phải giao dịch với lượng tiền trị giá đến hàng trăm tỷ mác Đức mỗi ngày và chóng mặt với hàng dãy số 0 tưởng như bất tận.
Lạm phát cao buộc chính phủ Đức phải định giá lại đồng mác và thay đồng papiermark bằng đồng rentenmark với tỷ giá 4,2 rentenmark/USD và cắt bớt 12 số 0 trên tờ tiền papiermark. Mặc dù đồng rentenmark đã bình ổn kinh tế một cách khá hiệu quả và chính phủ cộng hòa Weimar vẫn tiếp tục tồn tại cho đến năm 1933, nhưng siêu lạm phát và những áp lực kinh tế mà nó gây ra đã góp phần cho sự nổi lên của đảng Nazi và Adolf Hitler.
Dù rất nhiều người tin rằng lạm phát phi mã ở Đức là hệ quả trực tiếp từ việc chính phủ in quá nhiều tiền để chi cho chiến tranh, nhưng nguyên nhân chính của việc này đã được hé lộ sau đó vài năm.
Năm 1914, Đức ngừng hỗ trợ cho đồng tiền nước này bằng vàng và bắt đầu đi vay để chi trả cho chiến tranh thay vì thu thuế. Năm 1919, giá cả gần như đã tăng gấp đôi và nước Đức thất trận. Thế nhưng giai đoạn 1919 - 1921, đồng tiền nước này vẫn còn tương đối ổn định so với những năm sau đó.
Khoản tiền bồi thường sau chiến tranh được quy định trong Hiệp ước Versailles buộc Đức phải trả bằng vàng hay ngoại tệ tương ứng thay vì đồng papiermark. Để mua số ngoại tệ này, chính phủ Đức đã phải sử dụng đồng papiermark được đảm bảo bằng nợ chính phủ và vì vậy đã làm tăng tốc độ phá giá đồng tiền.
Khi người Đức không thể trả được các khoản nợ, quân đội Pháp và Bỉ đã chiếm thung lũng Ruhr vào tháng 1/1923 để đòi hỏi Đức phải trả bằng hiện vật. Việc này đã gây ra rất nhiều vụ đình công và phản kháng bị động của công nhân tại đây và làm cho mọi việc trở nên tồi tệ hơn. Khi chính phủ các nước châu Âu xung đột về việc tìm ra cách tốt nhất để giải quyết tình trạng này, thì nền kinh tế Đức đã nhanh chóng suy sụp. Và chỉ trong vòng hơn 1,5 năm cả nước Đức đã chìm trong lạm phát phi mã.
3. Yugoslavia: tháng 1/1994
Tháng lạm phát cao nhất: 315.000.000%
Giá tăng gấp đôi sau mỗi: 1,4 ngày
Một trường hợp siêu lạm phát nữa đã xảy ra với đồng dinar của Yugoslavia trong khoảng thời gian 1993 – 1995. Đỉnh điểm của cuộc lạm phát này là vào tháng 1/1994 khi giá cả tăng 313 triệu phần trăm trong vòng một tháng - tương đương 64,6% mỗi ngày với giá tăng gấp đôi chỉ sau 34 giờ. Trong toàn bộ thời kỳ lạm phát, ước tính giá cả tăng khoảng 5 triệu tỷ lần.
Cuối cùng, nhiều doanh nghiệp Yugoslavia đã từ chối sử dụng đồng dinar và đồng mác Đức (DM) trở thành đơn vị tiền tệ không chính thức của nước này, ngay cả sau khi chính phủ tái định giá đồng dinar bằng việc đổi 1 triệu dinar cũ sang 1 dinar mới. Theo một nghiên cứu của giáo sư Thayer Watkins đến từ đại học bang San Jose, vào ngày 12/11/1993, 1 mác Đức = 1 triệu dinar mới. Và vào ngày 15/12, 1 mác Đức đã tương đương 3,7 tỷ dinar. Còn đến cuối tháng thì tỷ lệ này đã trở thành 1 mác Đức = 3 nghìn tỷ dinar.
Sau lần định giá thứ hai, 1 dinar “mới của mới” tương tương 1 tỷ dinar “mới của cũ” và 1 mác Đức đổi được 6.000 dinar. Ngày 17/01/1994, tỷ giá vọt lên tới 1 mác Đức = 30 triệu dinar; đến ngày 24/01, chính phủ đã phải đưa ra đồng “siêu” dinar tương đương 10 triệu dinar “mới của mới”, đây chính là lần tái định giá thứ 5.
Trong suốt giai đoạn này, chính phủ đã phải trải qua một thời kì vô cùng khó khăn khi phải duy trì cấu trúc xã hội sau hàng loạt các biện pháp kiểm soát giá cả không hiệu quả. Các cơ quan chính phủ gần như không thể hoạt động và người dân thì không chịu trả hóa đơn đúng hạn bởi họ biết tiền sẽ mất giá rất nhanh sau đó.
Nguyên nhân đằng sau lạm phát của Yugoslavia chính là từ những xung đột trong khu vực, khủng hoảng kinh tế và những chính sách quản lý kém hiệu quả của chính phủ.
Sau cuộc suy thoái mang đậm dấu ấn của những khoản vay nước ngoài khổng lồ và đình trệ xuất khẩu vào thập niên 1970, Yugoslavia đã ngập chìm trong xung đột và đấu tranh chính trị trong suốt những năm 80 và 90. Trong hai năm 1989 và 1990, sau khi nhận khoản vay từ IMF, khoảng 1.100 công ty tại đây đã bị phá sản, kéo theo hơn 600 nghìn trên tổng số 2,7 triệu lao động bị sa thải. Ngoài ra, một số công ty đã quyết định không trả lương cho công nhân trong những tháng đầu năm để tránh phá sản. Việc này đã làm ảnh hưởng đến khoảng 500 nghìn người.
Chiến tranh Yugoslav, sự tan rã và mất ổn định của chính phủ là những nguyên nhân chính gây lạm phát phi mã. Sự quản lý yếu kém của chính phủ, bao gồm cả việc nhận thức kém về các chính sách kinh tế khi cho in tiền không kiểm soát, làm thâm hụt ngân sách ngày càng trầm trọng và áp đặt giá cả làm tình hình trở nên ngày càng tồi tệ.
Chính phủ áp đặt giá cả ở mức quá thấp và người dân không thể có lợi nhuận từ việc bán nông sản, hậu quả là, họ đóng cửa hàng để bảo vệ hàng hóa của mình. Còn chính phủ thì thay vì gỡ bỏ kiểm soát giá cả, họ lại mua hàng từ nước ngoài. Nguồn cung giảm mạnh khiến giá cả nhanh chóng tăng vọt.
2. Zimbabwe: tháng 11/2008
Tháng lạm phát cao nhất: 79.600.000.000%
Giá tăng gấp đôi sau mỗi: 24,7 tiếng
Ví dụ về lần lạm phát phi mã gần đây nhất trên thế giới chính là tại Zimbabwe và đỉnh điểm là vào tháng 11/2008 khi lạm phát ở mức 79 tỷ phần trăm mỗi tháng. Dù chính phủ Zimbabwe đã ngừng công bố các số liệu thống kê chính thức về lạm phát trong những tháng tồi tệ nhất, nhưng các báo cáo đã sử dụng lý thuyết kinh tế chuẩn (sức mua ngang giá) để tính toán ra con số này.
Giá cả tăng gấp đôi chỉ sau 24 giờ. Vài ngày sau khi phát hành tờ tiền mệnh giá 100 triệu, ngân hàng trung ương phát hành tiền mệnh giá 200 triệu và giới hạn số tiền rút ra khỏi ngân hàng ở mức 500.000 tương đương 0,25 USD. Khi tờ 100 triệu được sử dụng, giá cả bắt đầu tăng chóng mặt; các báo cáo ghi lại rằng 1 chiếc bánh mì tăng từ 2 triệu lên 35 triệu chỉ sau 1 đêm. Có thời điểm, chính phủ còn tuyên bố lạm phát là bất hợp pháp và bắt tất cả giám đốc của những công ty nào dám tăng giá sản phẩm.
Tình hình tồi tệ đến mức nhiều cửa hàng đã phải từ chối nhận đồng nội tệ và coi đồng USD hay đồng rand của Nam Phi là đơn vị tiền tệ không chính thức. Lạm phát kết thúc khi ngân hàng trung ương Zimbabwe phải tái định giá đồng tiền theo đồng USD. Sàn chứng khoán cũng bị buộc phải đóng cửa theo lệnh của chính phủ.
Khi Zimbabwe giành được độc lập vào năm 1980, chính phủ nước này đã chấp nhận sử dụng đồng tiền mới với tỷ giá ban đầu so với đồng USD là 1,25 USD. Tuy nhiên, chính sự quản lý yếu kém của chính phủ Zimbabwe về sau đã gây ra cuộc lạm phát phi mã ngoài tầm kiểm soát này.
Lạm phát bắt đầu vào đầu thập niên 1990 khi tổng thống Robert Mugabe khởi động chương trình phân phối lại đất đai lấy từ nông dân gốc Âu để chia cho nông dân Zimbabwe. Việc này làm sản lượng nông nghiệp đột ngột giảm mạnh và giá cả tăng là điều tất yếu.
Đầu thế kỷ 21, Zimbabwe bước vào lạm phát phi mã và đến năm 2006, nước này đã in 21 nghìn tỷ đôla Zimbabwe để trả cho IMF. Cùng năm đó, Zimbabwe lại phải in thêm 60 nghìn tỷ đôla Zimbabwe để trả lương cho binh lính, cảnh sát và quan chức nhà nước. Năm 2007, nước này đã thiếu hụt trầm trọng nguồn lương thực thiết yếu, nhiên liệu và các thiết bị y tế. IMF ước tính lạm phát hằng tháng của Zimbabwe đã vượt mức 115 nghìn phần trăm vào cuối năm và chính phủ Zimbabwe đã phải dừng trả lương 6 tháng cho người lao động.
Tháng 4/2008, 50 triệu đôla Zimbabwe đã tương đương 1,20USD, trong khi đó, ngân hàng trung ương nước này ước tính nền kinh tế đã co lại 6% so với năm ngoái. Tháng 7/2008, tờ Los Anelges Times đưa tin chính phủ Zimbabwe đã hết sạch giấy để in tiền khi các nhà cung cấp giấy ở châu Âu tạm ngừng cấp cho Zimbabwe do lo ngại các vấn đề về nhân đạo.
1. Hungary: năm 1946
Tháng lạm phát cao nhất: 13.600.000.000.000%
Giá tăng gấp đôi sau mỗi: 15,6 tiếng
Trường hợp lạm phát phi mã tồi tệ nhất trong lịch sử thế giới từng được ghi lại là ở Hungary vào nửa đầu năm 1946. Giữa năm đó, tờ tiền mệnh giá lớn nhất ở đây là 100.000.000.000.000.000.000 pengo. Con số này năm 1944 chỉ là 1.000 pengo.
Tình hình trở nên trầm trọng đến nỗi chính phủ phải sử dụng một đơn vị tiền tệ đặc biệt được thiết kế cho trả thuế và bưu chính. Loại tiền này được điều chỉnh hằng ngày qua radio. Đồng pengo đã bị thay thế sau đó trong một lần tái định giá tiền. Người ta ước tính tại thời điểm đồng pengo được thay vào tháng 8/1946, tổng giá trị của tất cả các tờ tiền Hungary đang được lưu thông ở nước này có giá trị chỉ bằng 1/1000 USD.
Đồng pengo được đưa vào lưu thông sau khi chiến tranh thế giới lần thứ nhất kết thúc để bình ổn nền kinh tế và khắc phục tình trạng lạm phát. Ngành nông nghiệp của Hungary đã bị thiệt hại nặng nề sau cuộc Đại suy thoái, và các khoản nợ khổng lồ đã buộc ngân hàng trung ương nước này phải phá giá đồng tiền của mình để bù lại chi phí bằng cách nới lỏng các chính sách tài khóa và tiền tệ. Khi chiến tranh thế giới lần thứ 2 bùng nổ, nền kinh tế của Hungary đang rất yếu kém và ngân hàng trung ương gần như thuộc quyền kiểm soát hoàn toàn của chính phủ, in tiền theo nhu cầu của ngân sách mà không có bất kì hạn chế nào.
Lạm phát khủng khiếp đến mức tiền xu gần như biến mất khỏi thị trường, ban đầu là xu bạc, rồi đến đồng và cả ni-ken nữa, vì khi ấy giá trị của kim loại làm ra chúng còn đáng giá hơn cả mệnh giá của chúng nữa. Khi chiến tranh kết thúc, chính phủ nắm toàn quyền kiểm soát việc in tiền mà không có bất kì tài sản đảm bảo nào. Khi quân đội Xô Viết đến đây, họ cũng ngay lập tức phát hành tiền riêng của mình nên nhu cầu cho đồng pengo đã giảm hẳn.
Cuối cùng, chính phủ Hungary đành phải cho ra đời đơn vị tiền tệ mới – đồng forint – có thể quy đổi trực tiếp ra vàng và ra các ngoại tệ khác. Ngày nay, đồng forint vẫn đang được lưu thông, nhưng có lẽ nó sẽ được thay bằng đồng Euro trong vài năm tới.
Hà Thu (theo CNBC)

Thuế lạm phát

Tác giả: Hùynh Thế Du
Bài đã được xuất bản.: 09/04/2011 06:00 GMT+7
Khi lạm phát xảy ra, đồng tiền sẽ mất giá. Vậy phần mất đi của người nắm giữ tiền mặt sẽ đi đâu? Câu trả lời đơn giản là vào “túi” của Nhà nước thông qua “thuế lạm phát”.
Với cùng một lượng tiền mặt như nhau nhưng khi lạm phát xảy ra, sau một thời gian người giữ tiền sẽ mua được ít hàng hóa hơn. Ví dụ, với mức giá tăng đến 17,96% trong năm 2010 và giả sử 1kg lương thực có giá 10 nghìn đồng vào đầu năm thì 100 nghìn đồng sẽ mua được 10kg, nhưng cuối năm chỉ còn 8,5kg. Tính bình quân trong năm 2010, những người giữ tiền mặt đã mất 11,75% giá trị tài sản của mình khi so với rổ hàng hóa chung của cả nền kinh tế.

Phần mất đi của người nắm giữ tiền mặt sẽ đi đâu? Câu trả lời đơn giản là vào "túi" của Nhà nước thông qua "thuế lạm phát".

Lạm phát được định nghĩa là mức tăng giá chung của nền kinh tế mà nguyên nhân chính của nó là lượng tiền tăng cao hơn lượng hàng hóa sau một thời gian. Hiểu một cách đơn giản, năm ngoái trong nền kinh tế có 100 đồng và 100 đơn vị hàng hóa thì giá cả sẽ là 1 đồng/hàng hóa. Năm nay do Chính phủ in thêm tiền nên trong nền kinh tế có thêm 10 đồng và tổng số tiền sẽ là 110 đồng. Với giả sử số hàng hóa vẫn không thay đổi thì giá của một hàng hóa sẽ là 1,1 đồng hay tăng 10%.

Bằng việc in tiền để mua hàng hóa trong nền kinh tế của mình, Nhà nước đã làm giảm giá trị (sức mua) của lượng tiền đang có. Một cách gián tiếp Nhà nước đã đánh thuế lên những người nắm giữ tiền mặt. Đây chính là thuế lạm phát.

Thuế lạm phát là thứ thuế mà hầu như nước nào cũng có, nhưng nó có tính lũy thoái mà hiểu một cách đơn giản người có thu nhập thấp hơn phải chịu mức thuế suất cao hơn.

Ví dụ một người có thu nhập 1 triệu đồng phải đóng thuế 200 nghìn chắc chắn thấp hơn số thuế 1 triệu đồng của người có thu nhập 10 triệu đồng. Tuy nhiên, trong trường hợp này, người có thu nhập thấp hơn phải chịu thuế suất gấp đôi (20% so với 10%) người có thu nhập cao. Điều này ngược với nguyên tắc công bằng dọc trong thuế khóa, người có khả năng thấp hơn phải chịu mức thuế thấp hơn.

Nguyên nhân gây ra tính lũy thoái của thuế lạm phát là do việc tăng giá trong nền kinh tế theo khuynh hướng các mặt hàng thiết yếu như lương thực, thực phẩm - rổ hàng hóa tiêu dùng chủ yếu của người nghèo - thường cao hơn rất nhiều so với những mặt hàng khác, nhất là những hàng hóa cao cấp - loại hàng hóa chiếm một tỷ phần chi tiêu lớn của những người khá giả hơn.

Ví dụ, nếu thu nhập của một người chủ yếu dành cho lương thực thực phẩm thì năm 2010 họ phải "đóng thuế" khoảng 17%, trong khi nếu chi cho đồ uống hay thiết bị và đồ dùng gia đình thì mức thuế chưa bằng một nửa con số nêu trên.

Tóm lại, thuế lạm phát là thứ thuế tồn tại trong hầu hết các nền kinh tế, nhưng nó có tính lũy thoái đánh vào người nghèo gây ra bất công trong xã hội nên cần phải hết sức hạn chế bằng việc kéo mức tăng giá xuống càng thấp càng tốt (thông thường là một vài phần trăm ở các nước phát triển và dưới 5% ở các nước đang phát triển).

Có một điểm cần lưu ý khác là sở dĩ bất kỳ một Chính phủ nước nào cũng có thể in tiền và công chúng sẽ sử dụng chúng là do uy tín của Chính phủ. Nói một cách khác đằng sau giá trị của đồng tiền một nước nào đó chính là uy tín của Chính phủ. Do vậy, việc in và sử dụng tiền cần phải tính toán hết sức cẩn thận.
Theo Tạp chí Tia Sáng

Thứ Ba, 27 tháng 9, 2011

Những phát ngôn gây “chấn động” nhất của Bộ trưởng Vương Đình Huệ

 

– Hàng loạt những câu nói “đanh thép” và quyết đoán về điều hành xăng dầu, của người đứng đầu Bộ Tài chính, Bộ trưởng Vương Đình Huệ đã gây “chấn động” trong nhiều ngày nay trên các phương tiện đại chúng.
Ngày 20/9 vừa qua, Bộ Tài chính đã chủ trì Hội thảo “Điều hành thị trường xăng dầu ở Việt Nam”. Đến dự hội thảo có khá nhiều lãnh đạo thuộc Bộ Công Thương, doanh nghiệp đầu mối kinh doanh xăng dầu, đặc biệt lần đầu tiên có Bộ trưởng Bộ Tài chính Vương Đình Huệ đến dự và chủ trì.

Tại Hội thảo, một cuộc tranh luận “nảy lửa” về cơ chế điều hành xăng dầu, giữa doanh nghiệp và hai Bộ Công thương - Tài chính đã diễn ra. Đáp lại những vướng mắc và bức xúc xung quanh vấn đề quản lý và điều hành xăng dầu, Bộ trưởng Vương Đình Huệ đã đưa ra khá nhiều quyết định khá “đanh thép” và quyết đoán.

Đúng như tiêu đề của cuộc Hội thảo, trong suốt 4 tiếng, những vấn đề gai góc nhất về điều hành xăng dầu đã được đưa ra.

Theo Bộ Công Thương hiện tại các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu đang lỗ khá nhiều, do cách điều hành giật cục và giá xăng dầu chưa đưa được về đúng nghĩa thị trường, tăng giảm không theo nguyên tắc. Nếu điều hành như thế này khả năng vỡ hệ thống xăng dầu là hoàn toàn có thể xảy ra.

Đặc biệt, tại Hội thảo này Tổng Công ty xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) cũng đã đưa ra những khoản lỗ không lỗ mà Tập đoàn đang phải gánh chịu.

Đáp lại những vướng mắc này, Bộ trưởng Huệ đã lập tức đưa ra những đối chất với Tổng Giám đốc Petrolimex và yêu cầu giải thích rõ xăng lỗ bao nhiêu, dầu lỗ bao nhiêu? Tuy nhiên, vị lãnh đạo này đã không thể làm rõ được vấn đề.

Trước vấn đề trên, Bộ trưởng Huệ đã đưa ra khẳng định rằng “Doanh nghiệp mà không tách lỗ đối với từng mặt hàng là không thể chấp nhận được bởi trong hạch toán kinh doanh không bao giờ hạch toán cụm sản phẩm như vậy. Không hiểu vấn đề quản trị của Petrolimex thế nào?”.

“Việc giảm giá xăng là có cơ sở, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm cá nhân về vấn đề này", Bộ trưởng Huệ quả quyết.
"Bộ Tài chính luôn theo sát và không bỏ qua doanh nghiệp nào cả. Nếu cách điều hành của chúng tôi gây thiệt hại cho doanh nghiệp chúng tôi chịu trách nhiệm và bồi thường. Những vấn đề do Nhà nước điều hành khách quan dẫn đến tình trạng thua lỗ của doanh nghiệp, Nhà nước sẽ hoàn toàn có trách nhiệm để bù đắp, nhưng bù đắp những chi phí hợp lý chứ không thể nào đi gánh những khoản bất hợp lý của thị trường” - Bộ trưởng Huệ khẳng định.
Cùng với khẳng định này Bộ trưởng Huệ cũng đưa ra tuyên bố khá cương quyết: “Nếu doanh nghiệp nào thấy lỗ quá không làm được thì rút lui. Kể cả Petrolimex, nếu không làm được chúng tôi sẵn sàng cho giải tán để lập tổng công ty khác. Nhà nước không dọa ai và cũng không ai dọa được nhà nước”.

“Tôi đã có 10 năm làm kiểm toán Nhà nước, trong đó có 5 làm Tổng kiểm toán Nhà nước, nên tôi biết rõ hơn ai hết từng doanh nghiệp như thế nào và cũng thuộc các số liệu lỗ, lãi của doanh nghiệp như lòng bàn tay. Điều này có nghĩa, tôi thừa hiểu các nhà nhập khẩu xăng dầu lỗ hay lãi và sức chịu đựng của họ đến đâu. Vì vậy Bộ đủ sức đề điều hành 11 doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu xăng dầu”, Bộ trưởng Huệ tuyên bố.

“Với tư cách là Bộ trưởng Bộ Tài chính, tôi xin tuyên bố sẽ không cho phép doanh nghiệp nào bỏ việc lưu thông xăng dầu, khó khăn nào cũng có thể giải quyết. Chúng tôi làm việc và điều hành có trách nhiệm, không phải vì 11 doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu xăng dầu, mà vì cả nền kinh tế và hơn 86 triệu người tiêu dùng xăng dầu trên lãnh thổ  này”, Bộ trưởng Huệ, tái khẳng định.

Kết thúc Hội nghị Bộ trưởng Huệ cũng không quên đưa ra những tuyên bố làm yên lòng bao nhiêu người tiêu dùng: “Giá xăng dầu trên thế giới là yếu tố nhạy cảm, biến động hàng giờ dưới những tác động của rất nhiều yếu tố về kinh tế - chính trị và xã hội. Mỗi một sự tăng, giảm của giá xăng dầu đều có tác động trực tiếp tới giá cả của hầu hết các sản phẩm, dịch vụ trong nền kinh tế và điều đó sẽ ảnh hưởng ngay tới lợi ích của các đối tượng”.

“Từ nay đến cuối năm, tôi cho rằng không thể để giá theo Nghị định 84 được. Trong điều kiện hiện nay cũng không nên tăng giá xăng dầu mà sẽ sử dụng hết cách để bù lỗ cho doanh nghiệp, kể cả bù giá. Chúng ta nên bình tĩnh, Bộ sẽ làm hết sức mình. Để nắm rõ hoạt động lỗ, lãi của các doanh nghiệp xăng dầu, từ đó có cơ sở minh bạch trong điều chỉnh giá, Bộ Tài chính đã cử ba đoàn kiểm tra chịu trách nhiệm về vấn đề này”. Bộ trưởng Huệ tuyên bố.

CÔNG – XĂNG – TÀI DIỄN NGHĨA

La Trung Nghệ Quán
Hồi Một:
Tung hỏa mù Công – Xăng kêu lỗ
Giở hóa đơn Thượng thư Huệ nói lời
Lại nói, nước Việt, năm thứ sáu mươi sáu, mùa thu, bỗng dưng lạm phát tăng phi mã, vật giá leo thang, lòng người oán thán. Trong lúc vàng bạc, mỹ kim đua nhau tăng giá, thì chứng khoán liên tục xuống đỏ sàn. Thấy vậy, mấy nhà độc quyền là điện, xăng dầu cũng dâng sớ lên tể tướng cho tăng giá theo. Tình hình nguy cấp quá, tể tướng vội xuống chỉ cho Bộ Công và Bộ Tài cùng nhau hiến kế. Lĩnh ấn tiên phong, tân thượng thư Bộ Tài, họ Vương tên là Đình Huệ, tức tốc mở hội đàm cho mời Bộ Công và các đại gia đến tham vấn. Đoàn của Bộ Công do Phó Thượng thư dẫn đầu, đó là một vị mặt mũi phương phi, trán hói, mặt đỏ như ba quả táo chồng lên nhau. Hỏi ra mới biết, họ Nguyễn tên là Cẩm Tú, vốn là quý tử của một cựu Phó tể tướng đã hồi hưu. Oái ăm thay họ Nguyễn cũng là đồng hương An Tĩnh với Thượng thư họ Vương. Theo sau phó thượng thư Cẩm Tú là một đoàn lốc nhốc dăm bảy tên tùy tùng. Tiền hô hậu ủng theo họ là các đại gia độc quyền trong ngành xăng dầu. Ai nấy oai phong lẫm lẫm, khí thế như chực nuốt cả sao Đẩu, sao Ngưu.
An tọa. Phân ngôi chủ khách xong, Thượng thư Bộ Tài chưa dứt lời phi lộ, phó thượng thư Bộ Công, Cẩm Tú đã khai chiến trước. Không thèm rào trước, đón sau, ngài đã hướng thần công về phía Bộ Công nã pháo. Ngài tham chiếu Chỉ dụ 84 để kết tội Bộ Tài phạm luật, khiến cho doanh nghiệp điêu đứng, lỗ vốn vì kiểu điều hành “bịt mắt bắt dê”. Ngài cảnh báo nguy cơ vỡ hệ thống xăng dầu toàn quốc, ngài tiên tri viễn cảnh tối tăm, khi hàng hàng doanh nghiệp cùng rút vốn, bỏ thị trường. Thật là “miệng nhà quan có gang có thép”, không hổ danh dòng dõi trâm anh thế phiệt. Trước khi dứt lời, ngài không quên gửi tối hậu thư cho Vương Thượng thư: “Phải điều hành bằng đầu, chứ đừng điều hành bằng tay chân!”. Họ Nguyễn nói vậy thật chẳng khác gì coi Vương Thượng thư là phường võ biền “đầu óc ngu sy, tứ chi phát triển”! Khi nghe Cẩm Tú nói những lời khiếm nhã trên đây, trong lúc thuộc hạ rất lấy làm tức giận, thì khuôn mặt Vương Thượng thư không hề biến sắc. Ngài vẫn ra vẻ “bạch diện thư sinh” như ngày còn thụ giáo ở Quốc tử giám. Cẩm Tú vừa dứt lời, một thuộc hạ thân tín đã cướp diễn đàn, lên tiếng. Ra vẻ khiêm nhường, y nói: “Mỗ không giỏi, nhưng cũng đã từng lều chõng sang Âu châu, ứng thí giải quốc tế toán chương, thế mà không tài nào hiểu nổi phép tính của Bộ Tài. Lúc doanh nghiệp đang lỗ thì cho giảm giá. Chẳng hay Bộ Tài có làm sao không?” A, thằng oắt con, mày nói thế chẳng phải xem ta là thiểu năng trí tuệ ru? Trong bụng nghĩ vậy, nhưng Vương Thượng thư vẫn điềm nhiên như không, ngài chỉ nhỏ nhẹ: Giỏi toán cũng phải biết thực tế. Mọi người ngơ ngác không hiểu anh chàng xấc xược này ở đâu ra, mãi sau mới biết đó là quan phụ tá Vụ Nội địa thị trường, Bộ Công. Y họ Nguyễn, tên là Lộc An. Nghi ngờ những điều y vừa “nổ”, ngay sau buổi hội đàm, một vị Phó Bảng họ Võ tên là Trí Long đã chặn đường Lộc An hỏi: “Chẳng hay nhà ngươi dự thi quốc tế toán chương năm nào?”. Lộc An trả lời: “ Mỗ ứng thí năm Tuất, 1982”. “Ta là người biết rõ các đội tuyển quốc gia ứng thí quốc tế toán chương. Chắc chắn kỳ thi năm tuất không có tên ngươi”, Phó bảng Trí Long nói như đinh đóng cột. Bị vạch chân tướng, vậy mà Lộc An vẫn ngoan cố: “Xin mời ngài tra lại số sách”. Cũng không phải đợi lâu, ngày hôm sau Khảo thí Bộ Dục đã loan tin khắp kinh thành: Nguyễn Lộc An chưa từng được ứng thí quốc tế toán chương! Đúng là “nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy”. Thật là đáng phỉ nhổ. Một người như vậy thì làm sao bá tánh có thể tin. Không biết sau vụ này Lộc An có còn “an”, còn “lộc’? Hạ hồi phân giải.
Lại nói chuyện tọa đàm tư vấn, sau khi Lộc An huênh hoang, đến lượt các đại gia xăng dầu thi nhau kêu lỗ. Nguyên nhân thua lỗ đều do Bộ Tài điều hành không tốt. Tiếng kêu của họ nghe ai oán đến tận trời xanh. Phó thượng thư Cẩm Tú nhìn Lộc An, các đại gia nhìn Cẩm Tú. Thật là “tam diện nhất ngôn”, không ai bảo ai mà đều chĩa mũi dùi vào Bộ Tài. Tình thế của Vương thượng thư lúc này khác nào trứng để đầu đẳng, chỉ mành treo chuông!
Lúc này Vương Thượng thư mới từ từ lên tiếng. Đầu tiên ngài yêu cầu các đại gia khai rõ từng mặt hàng lỗ lãi bao nhiêu? Các đại gia lúng túng: chúng tôi chỉ tính chung, không phân khai từng thứ. Cử tọa bắt đầu ngạc nhiên: quản trị doanh nghiệp mà thế ru, phỏng có chấp nhận được không? Vương Thượng thư hỏi tiếp: “Tại sao khi các ngươi loan tin cáo bạch để bán cổ phiếu thì nói lãi mỗi năm hơn chín trăm tỷ, mà nay dâng sớ xin tăng giá lại kêu lỗ những hai ngàn tỷ là lẽ làm sao? Các ngươi hoặc là lừa dân để bán cho được cổ phiếu, hoặc là lừa triều đình để lại tăng giá xăng!” Phía Bộ Công và các đại gia nhìn nhau lúng túng, người đưa lý do này, kẻ đưa ra nguyên cớ nọ, làm cử tọa cười đau cả bụng. Đợi cho đối phương cạn lời mà vẫn đuối lý, Vương Thượng thư mới tung nốt đòn hiểm cuối cùng, ngài dẫn số liệu của quan thu thuế cửa khẩu, nước Việt gọi là Hải quan, để chứng minh rằng: cứ mỗi đấu xăng dầu nhập về các đại gia không lỗ mà còn lời trên bảy trăm quan, đó là chưa kể khoản ba trăm quan được triều đình cho gọi là lãi định mức. “Như vậy, các ngươi lãi trên một ngàn quan một đấu xăng dầu, cớ sao dám nói lỗ!”. Bọn Cẩm Tú, Lộc An, cùng các đại gia lại hùa nhau lên tiếng, chẳng còn tôn ti trật tự là gì. Lúc này thì hỗn loạn như ngoài chợ. Đến nỗi Vương Thượng thư cũng phải nghiêm sắc mặt nhắc nhở: “Các ngươi nên nhớ chủ nhà hôm nay là Bộ Tài”, bọn họ mới chịu vãn hồi trật tự. Chung cuộc bọn Cẩm Tú đòi trả việc định giá cho các đại gia, như Chỉ dụ 84 quy định, Bộ Tài không được can thiệp! Lúc này Vương Thượng thư được một số nhân sỹ giúp sức đã vạch rõ chân tướng của họ. Ngài dõng dạc: “Các ngươi có 11 đại gia, nhưng trong đó chỉ ba tên đã chiếm trên chín chục phần trăm thị phần, lại có một tên chiếm tới sáu chục phần trăm. Trao quyền tự quyết cho các ngươi để các ngươi tự tung tự tác, không coi triều đình, không coi dân ra gì nữa, thì giá xăng dầu sẽ lên đến đâu? Dân đen có chịu thấu không?”. Lúc này bọn Cẩm Tú và các đại gia lại giở bổn cũ ra dọa, đó là đòi rút khỏi thị trường. Tức thì Vương Thượng thư thách thức: “Các ngươi, ai muốn rút cứ rút, để người khác kinh doanh. Đừng dọa triều đình!”. Ngài tuyên bố đanh thép: “Ta điều hành giá xăng dầu là vì lợi ích của tám chục triệu con dân nước Việt, quyết không vì lợi ích của mấy đại gia độc quyền!”. Trừ bọn Cẩm Tú, Lộc An và mấy đại gia, cử tọa ai nấy đều lấy làm cảm kích trước khẩu khí của Vương Thượng thư.
Chỉ mấy giờ sau tin tức từ cuộc tọa đàm đã loan ra khắp kinh thành. Nam phụ lão ấu ai nấy đều rất tin tưởng ở tài đức của Vương Thượng thư. Báo chí từ “hữu ngạn” cho đến “tả ngạn” đồng loạt đưa tin, bình phẩm về cuộc khẩu chiến. Ai cũng khen Vương Thượng thư là người can đảm, dám công khai nghênh chiến với một liên minh ma quỷ, mà gần đây người Việt gọi là “Nhóm lợi ích”. Cũng có đôi vị trải chính trường lo ngại cho Vương Thượng thư, không biết ngài có trụ vững được trong quan trường lâu không, hay lại bất đắc chí như họ Chu (Văn An), họ Nguyễn (Nguyễn Trãi) xưa và họ Trần (XB) nay? Có vị văn sỹ còn ví việc làm của Vương chẳng khác gì “bật lửa xem xăng”, nguy cơ bị tẩm xăng không phải là bất khả!
Hình như không quan ngại những lời đàm tiếu, ngay hôm sau Vương Thượng thư đã xuống lệnh lập các đoàn đi thanh tra bốn đại gia xăng dầu. “Ba quân chỉ ngọn cờ đào. Đạo ra Vô tích, đạo vào Lâm tri”. Nghe nói phía Bộ Công và các đại gia cũng lập tức dàn trận, nghênh chiến.
Chưa biết hai bên tham chiến trận này ra sao, đợi hồi sau sẽ rõ.

Thứ Hai, 26 tháng 9, 2011

Đầu tư như Buffet đâu dễ

Tuần rồi tin Steve Jobs thôi làm sếp Apple chiếm lĩnh tin kinh doanh, nên chỉ có ai theo dõi sát sao thị trường chứng khoán mới để ý Warren Buffet bỏ 5 tỉ đô (tiền lẻ) mua cổ phiếu của ngân hàng đang xuống dốc Bank of America.  Đã có nhiều phân tích về vụ này; xin tạm dịch bài viết khá dễ hiểu sau của Bethany McLean trên Slate.com. (Nguồn: http://www.slate.com/id/2302540/)
Chưa đầy một tuần nhưng vụ Warren Buffet dùng 5 tỉ đô của công ty Berkshire Hathaway đầu tư vào Bank of America (BofA) đã được mổ xẻ, phân tích, ca ngợi, và thậm chí chỉ trích.  Đương nhiên chẳng có gì lạ.  Mỗi lời mỗi chữ, nhất cử nhất động của Buffet luôn được soi rọi kỹ càng.  Thiên hạ mê Buffet một phần chỉ vì ông là một trong những người giàu nhất Mỹ.  Nhưng một phần khác là vì thiên hạ nghĩ rằng cách ông làm giàu – thiên tài đầu tư của ông – là điều mà người thường ai cũng bắt chước được.  Ta chỉ cần theo dõi và lắng nghe, thế là ta sẽ nắm được phép màu.
Buffett là một trong những nhà đầu tư giỏi nhất trong lịch sử, và ta có thể học được rất nhiều qua những vụ đầu tư trước đây của ông.  Nhưng trong số những thương vụ gần đây của Buffett, có một số theo một mô hình khác với các khoản đầu tư của ông trong thập niên 70, 80, và 90.  Vụ mua cổ phiếu BofA quả thực là ví dụ điển hình cho thấy tại sao người thường như ta không thể đầu tư giống như Warren Buffett.
Trước hết, Buffett đạt thành công mà nhà đầu tư bình thường có nằm mơ cũng không được.   Thương vụ này bắt đầu bằng một cuộc điện thoại từ trợ lý của Buffett tới văn phòng Tổng giám đốc BofA Brian Moynihan hôm thứ Tư tuần rồi.   Moynihan đương nhiên bốc máy, và Buffett ngỏ ý đầu tư.  Một cổ đông BofA bình thường họa may lắm thì cũng chỉ nói chuyện được với trợ lý của trợ lý cho Brian Moynihan.
Thứ đến, thử xem qua cơ cấu của thương vụ này.  Đây không phải là một khoản đầu tư bình thường mà trong đó nhà đầu tư mua cổ phiếu phổ thông.  Với 5 tỉ đô, Buffet mua được 50.000 cổ phần thuộc loại đặc biệt gọi là “cổ phiếu ưu đãi”, cho ông hưởng cổ tức 6 phần trăm, tức là 300 triệu đô mỗi năm.  Thử làm con toán so sánh như sau.  Cổ đông giữ cổ phần phổ thông của BofA hưởng cố tức trả hàng quý bằng 1 xu mỗi cổ phần.  Nghĩa là nếu giữ 5 tỉ đô cổ phần phổ thông của BofA ở mức giá hiện tại chừng 8 đô /cổ phần, ta được cổ tức chỉ vỏn vẹn 25 triệu đô mỗi năm – chưa bằng một phần mười khoản cổ tức Buffet được hưởng.  (Hồi đầu năm nay, BofA xin phép tăng cổ tức, nhưng bị Quỹ Dự trữ Liên bang từ chối.)
BofA có thể mua lại số cổ phần của Buffett bất cứ lúc nào nhưng phải trả chênh lệch cao hơn 5%.
Công bằng mà nói ta có thể hưởng cổ tức cao hơn nếu mua cổ phiếu ưu đãi của BofA.  Nhưng ta làm sao có được miếng thơm nhất trong vụ này của Buffet; đó là chứng quyền (warrant).  Những chứng quyền này cho Buffet được quyền mua 700 triệu cổ phần BofA ở mức giá 7.14 đô / cổ phần vào bất cứ lúc nào trong vòng 10 năm tới.  Chứng quyền thường được phát hành ở mức giá cao hơn rất nhiều so với giá cổ phiếu của công ty phát hành, nhưng các chứng quyền của Buffet được phát hành ở mức cao hơn chút đỉnh so với giá BofA lúc đóng cửa giao dịch hôm thứ Tư tuần rồi.  Có nhiều cách định giá các chứng quyền này, nhưng phần lớn giới phân tích và quan sát ước tính những chứng quyền của Buffet có giá trị độ chừng 3 tỉ đô.  Phải, BofA biếu không Buffet 3 tỉ đô.   Người thường như ta đừng hòng vớ được món hời như vậy!
Sau cùng, ta không thể đầu tư như Buffet vì khoản đầu tư của ta, không như của ổng, không phải tự thân nó là thương vụ ăn chắc.  Vì Buffet đầu tư, thiên hạ tin theo.  Khi vừa có tin ông đầu tư vào BofA, cổ phiếu này lập tức tăng vọt hơn 25%.  Giá cổ phiếu lúc đóng cửa giao dịch tăng 9%.  Hôm thứ Hai, ngày tăng mạnh của toàn thị trường, giá BofA lúc đóng cửa tăng 20% so với giá trước lúc Buffet mua cổ phiếu hôm Thứ tư tuần rồi.  Vào lúc viết bài này, giá Bofa chừng 8.15 đô / cổ phần, nghĩa là giá trị các chứng quyền của ông đã tăng vọt, chí ít cũng nhờ khoản đầu tư của ông.  Nếu tiền của ta cũng tự sinh ra tiền như vậy cũng hay chứ.
Cú đầu tư vào BofA không phải là lần đầu tiên Buffett thực hiện một thương vụ như vậy.  Một vụ tương tự là lần ông bỏ 5 tỉ đô vào Goldman Sachs lúc cao trào của cuộc khủng hoảng tài chính.  Không phải tình cờ mà thương vụ đó là một cú thắng lớn cho công ty Berkshire Hathaway của Buffett.  Goldman trả cho Berkshire hơn 1 tỉ đô cổ tức – hơn 1 triệu đô mỗi ngày – hồi mùa xuân năm nay, Goldman mua lại số cổ phần của Berkshire Hathaway với giá 5,5 tỉ đô.  (Buffet vẫn còn nắm giữ các chứng quyền mua cổ phần Goldman ở giá 115 đô / cổ phần, vốn có giá trị cao trước khi thị trường tụt dốc và có thể lại có giá trị cao trước khi các chứng quyền này hết hạn vào năm 2013.)  Buffet cũng thương lượng được một vụ mua cổ phần tương tự với General Electric (GE).
Chẳng đáng ngạc nhiên khi thương vụ BofA của Buffet bị chỉ trích tương tự như sau các thương vụ Goldman và GE của ông.   Một phần của sự chỉ trích đó là Buffet trục lợi từ bảo lãnh ngầm của người dân đóng thuế hỗ trợ cho tất cả những định chế được xem là quá lớn nên không thể bị sập tiệm (too-big-to-fail), trong đó có Goldman, GE, và BofA.  Phần khác của sự chỉ trích là Buffet không còn là một nhà đầu tư xuất chúng, chẳng qua ông là một nhà đầu tư hưởng nhiều đặc quyền để thực hiện những vụ mua bán mà người khác không làm được.
Vế thứ nhất của sự chỉ trích là chính đáng – mặc dù chúng ta cũng đã có thể mua cổ phần trong một định chế tài chính rồi hưởng lợi từ bảo lãnh của dân đóng thuế.  Về vế thứ hai của lời chỉ trích, có thể đặt vấn đề cách khác: Buffet giành được quyền hưởng những thương vụ thơm ngon.  Suy cho cùng, khi Warren Buffett đầu tư vào một công ty, ông ban cho công ty đó một đặc ân độc nhất vô nhị: mức tín nhiệm của ông.   Không một nhà đầu tư bình thường nào - nói đúng ra, không một nhà đầu tư nào khác ở bất cứ đâu – có thể làm đựợc như vậy.  Cứ thử nhớ lại chuyện gì đã xảy ra với cổ phiếu BofA sau khi một nhà đầu tư được đề cao tên là Bruce Berkowitz vừa bỏ tiền đầu tư vừa lên tiếng ủng hộ ngân hàng này.  Cổ phiếu này tiếp tục trượt dốc.  Nói cách khác, nếu Buffet có thể trao cho một công ty một thứ mà không nhà đầu tư bình thường nào có thể, thì có lẽ ông nên được tưởng thưởng khác với những nhà đầu tư bình thường.
Còn nếu điều đó không khiến bạn vui hơn, tôi có một gợi ý khác: Mua vài cổ phần của Berkshire Hathaway.